Triển lãm “Nghề gốm Bát Tràng - Cổ truyền và Hiện đại”

26/01/2016

Nằm trong chuỗi sự kiện kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, từ 5 đến 9 /10/2010, tại xã Bát Tràng, Gia Lâm, Hà Nội đã diễn ra lễ khai mạc triển lãm “Nghề gốm Bát Tràng - Cổ truyền và Hiện đại” với các nội dung giới thiệu về các dòng gốm qua từng thời kỳ, quy trình sản xuất đồ gốm; tôn vinh các nghệ nhân, các điển hình trong việc giữ gìn nghề truyền thống và phát triển thương hiệu gốm Bát Tràng qua các thời kỳ từ thế kỷ XIV-XV đến nay.

Với các chủ đề “Huyền thoại gốm”, “Hoa của đất”, “Hội nhập”, “Lan tỏa” các nghệ nhân giới thiệu quy trình sản xuất đồ gốm từ khâu chọn đất, xử lý pha chế đất đến tạo dáng, tạo hoa văn, phơi sấy sản phẩm và sửa hàng mộc; kỹ thuật vẽ, chế tạo men, tráng men...

Cũng trong dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, làng gốm Bát Tràng đã dâng tặng thành phố đôi rồng gốm sứ phỏng theo rồng thời Lý lớn nhất Việt Nam và linh vật thần Kim Quy. Dự án “Con đường gốm sứ ven sông Hồng” cũng có sự đóng góp không nhỏ cả về trí tuệ và bàn tay vàng của các nghệ nhân gốm sứ Bát Tràng.

Triển lãm với 5 gian hàng lớn trưng bày hơn 1000 các sản phẩm gốm sứ của Bát Tràng, đủ chủng loại, kiểu dáng, bao gồm các đồ gia dụng như bát, đĩa, bình, lọ, chóe… và các mặt hàng mỹ nghệ như đĩa treo tường, lọ hoa, con giống, tượng phiên bản, với kỹ thuật và công nghệ cao.

Đồng thời, triển lãm có hơn 20 gian hàng nhỏ trưng bày, tái hiện lại nghề thủ công truyền thống của những làng nghề gốm, sứ khác như gốm Chu Đậu, Phù Lãng, Đông Triều, Kim Lan… cùng các làng nghề tiêu biểu khác như làng nghề nón Nón Chuông, làng nghề mỹ nghệ Qua Thuận, làng giáp vàng Kiêu Kỵ… tạo nên qui mô của cuộc triển lãm lần này.

Dưới đây là một số hình ảnh ghi lại tại triển lãm.

1. Sự phát triển công nghệ sản xuất qua các thời kỳ   

Lò nung gạch và sản xuất sương đàn gọi tắt là Lò Đàn.

Lò đàn xuất hiện vào giữa thế kỷ 19.  Lò nung ra các sản phẩm như chân đèn, lọ bình vôi, bát đàn và gạch Bát Tràng. Đến nửa đầu thế kỷ 20 ở Bát Tràng còn trên 10 lò. Lò đun cuối cùng vào năm 1946 trước khi tản cư, lò phá bỏ cuối cùng vào năm 1959 khi đào sông Bắc Hưng Hải.

Lò được xây bằng gạch, cật lò được trình bằng đất dâu, trai trong lò có hai hàng cột chống (nống). Lò đun bằng củi, thời gian đun 1 lò 140-150 giờ (6, 7 ngày đêm), đun trực tiếp từ cửa ra vào lò. Nhiệt độ lò đàn có thể đạt được 1250–1300°C.

Lò bầu hay còn gọi là lò vỏ sò, lò rồng.

Lò xuất hiện vào đầu thế kỷ 20, từ 1960 đến nay lò được cải tiến nhiều. Lò được chia thành từng khoang (bầu) nhiều hay ít khoang tùy theo diện tích xây, có độ dốc 17-18 độ. Trong mỗi khoang có từng cấp theo độ dốc của lò để xếp hàng gọi là bệ. Thường có từ 5 đến 7 bầu (cũng có khi đến 10 bầu). Bầu lò có vòm cuốn liên tiếp vuông góc với trục tiêu của lò tựa như những mảnh vỏ sò úp nối với nhau. Người ta dùng gạch chịu lửa đề xây dựng vòm cuốn của lò. Lò dài khoảng 13 m cộng với đoạn để xây ống khói ở phía đuôi dài 2 m thì toàn bộ độ dài của lò tới 15 m.

Ưu việt của lò bầu là không cần bao nung, hàng được xếp trần, màu men đẹp cổ truyền gọi là búp dong, không có loại hóa chất nào thay thế được mầu men đó.

Nhược điểm là phải dùng nhiều củi, có thể dùng than cám luyện với bùn nắm lại xếp trên mặt ghi và dùng quạt lò nhưng chỉ thay thế được 30% củi. Nhiệt độ của lò bầu có thể đạt tới 1300°C.

Lò hộp hay lò đứng.

Khoảng năm 1975 trở lại đây người Bát Tràng chuyển sang xây dựng lò hộp để nung gốm. Lò thường cao 5 mét rộng 0,9 mét, bên trong xây bằng gạch chịu lửa giống như xây tường nhà. Lò mở hai cửa, kết cấu đơn giản, chiếm ít diện tích, chi phí xây lò không nhiều, tiện lợi cho quy mô gia đình, vì thế hầu như gia đình nào cũng có lò gốm, thậm chí mỗi nhà có đến 2, 3 lò. Nhiệt độ lò có thể đạt 1250°C.

Lò gas (LPG) nung gốm tiết kiệm năng lượng.

Lò con thoi (hay lò gas), lò tuynen (lò hầm, lò liên tục): Trong những năm gần đây, Bát Tràng xuất hiện thêm những kiểu lò hiện đại là lò con thoi, hoặc lò tuynen, với nhiên liệu là khí đốt hoặc dầu. Trong quá trình đốt, nhiệt độ được theo dõi qua hỏa kế, việc điều chỉnh nhiệt độ mà thực chất là quá trình tăng giảm nhiên liệu được thực hiện bán tự động hoặc tự động, công việc đốt lò trở nên đơn giản hơn nhiều. Tuy nhiên, đây không phải là những lò truyền thống của Bát Tràng.

2. Các tác phẩm gốm sứ đặc sắc

Đại Lãn há miệng chờ sung – men rạn: Gầy giơ xương sườn, bọ ngựa bám chân không buồn đuổi.

Tình thày trò – men giả đồng.

Bộ quân cờ tướng đất nung tráng men.

Cặp hươu sao

Bình, đỉnh - men chảy

Sách gốm “Nam Quốc Sơn Hà”
 
 
Tượng “Hát ca trù” - bằng chất liệu đá cao lanh. Từ phải sang trái: Đào (ca sỹ), Kép (nhạc công), Quan viên (người thưởng ngoạn).  
 
 
Cụ rùa – Linh vật thần Kim Quy làm bằng gốm.
 
Bộ bàn ghế bằng sứ tráng men.
 
 
1.350 chữ Hán trong bài “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi được làm bằng gốm sứ có màu men xanh nước biển.
 
 
Vệ nữ.
 
Tác phẩm của các “Thợ giỏi” Bát Tràng (Thợ giỏi – danh hiệu do làng Bát Tràng phong).
 
Quốc Hùng
Trung tâm KHCN CERATEC